Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 08/2015/NĐ-CP và Nghị định số 59/2018/NĐ-CP
TIN TỨC HẢI QUAN AN GIANG   15:31 | 12/05/2020
Ngày 21/01/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan; ngày 20/4/2018, Chính phủ ban hành Nghi định số 59/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP nêu trên.

Nghị định 08/2015/NĐ-CP và 59/2018/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý để thực hiện phương thức hoạt động hải quan hiện đại theo nguyên tắc áp dụng quản lý rủi ro trong toàn bộ hoạt động kiểm tra, giám sát hải quan; công tác kiểm tra sau thông quan được tăng cường; mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý một cách đồng bộ giữa người khai hải quan, cơ quan quản lý nhà nước thông qua Hệ thống quản lý hải quan điện tử, Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN … được triển khai tạo bước ngoặt mới trong công tác hiện đại hóa hải quan; rút ngắn thời gian thông quan, cắt giảm chi phí, đơn giản hóa thủ tục hành chính, góp phần tạo thuận lợi, tạo thông thoáng về thủ tục XNK… Bên cạnh đó, các nghị định tạo sự chặt chẽ trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan; tạo hiệu quả trong việc phát hiện, ngăn ngừa các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới…

Việc đảm bảo yêu cầu cải cách thủ tục hành chính về hải quan tiếp tục được triển khai toàn diện như đơn giản hóa bộ hồ sơ hải quan, các bước trong quy trình thủ tục hải quan được quy định rõ ràng, cụ thể theo hướng giảm thời gian kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa.

Bên cạnh đó, cả hai Nghị định đã góp phần tạo nên sự cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, tạo cơ sở giảm thời gian và chi phí thủ tục, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện các nội dung tại hai Nghị định nêu trên đã bộc lộ một số quy định không còn phù hợp so với thực tế công tác quản lý hải quan hoặc chồng chéo với các văn bản quy phạm pháp luật khác, như: Công tác kiểm tra chuyên ngành, kiểm tra, giám sát hải quan, thủ tục hải quan đối với một số loại hình hàng hóa XNK, quản lý rủi ro, hoạt động kiểm tra sau thông quan… cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Hơn nữa Việt Nam đã và đang tham gia đàm phán ký kết nhiều Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới như: EVFTA, CPTPP… đòi hỏi thủ tục hải quan phải được cải cách, minh bạch hơn nữa.
            Hiện cả hai Nghị định trên đang được Tổng cục Hải quan yêu cầu rà soát lại nhằm sửa đổi các quy định phù hợp với tình hình thực tế và theo đúng cam kết tại các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đảm bảo được sự minh bạch, rõ ràng trong việc thi hành pháp luật hải quan; tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong quá trình làm thủ tục hải quan từ trước, trong và sau thông quan, đáp ứng được tình hình thực tế, tháo gỡ nhiều vướng mắc của doanh nghiệp.

Bên cạnh những góp ý các vấn đề cần sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định 08/2015/NĐ-CP và Nghị định 59/2018/NĐ-CP; các Cục Hải quan tỉnh, thành phố có nhiều ý kiến liên quan đến thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia; kiểm tra chuyên ngành; áp dụng quản lý rủi ro; vấn đề xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá; vấnđề trách nhiệm và quan hệ phối hợp của các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu trong việc kiểm tra hàng hóa, phương tiện vận tải tại cửa khẩu; vấn đề tạm nhập tái xuất hàng hóa…

Riêng Cục Hải quan tỉnh An Giang đã kiến nghị nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

Về thời hạn đăng ký ngày tạm nhập, ngày tái xuất, ngày tạm xuất, ngày tái nhập đối với phương tiện chứa hàng hóa (container rỗng) theo phương thức quay vòng theo yêu cầu tại mục 4 và 5 của Bảng kê tạm nhập hoặc tạm xuất Container/ Bồn mềm rỗng (Mẫu số 02 phụ lục 9 Thông tư số 38/2015/TT-BTC theo quy định về hồ sơ hải quan tại điểm b khoản 3 Điều 49 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 22 Điều 1 Nghị định số 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 của Chính phủ).

Thực hiện quy định trên, đơn vị Chi cục Hải quan và doanh nghiệp gặp khó khăn như sau:

-Thương nhân không thể xác định thời hạn tạm nhập – tái xuất, tạm xuất – tái nhập để đăng ký với cơ quan hải quan khi làm thủ tục hải quan đối với phương tiện chứa hàng hóa theo phương thức quay vòng được quy định tại Bảng kê dẫn trên do không xác định được hành trình cũng như thời gian di chuyển của các phương tiện chứa hàng hóa theo phương thức quay vòng này.

-Trường hợp thương nhân đăng ký thời hạn tạm nhập - tái xuất, tạm xuất – tái nhập kéo dài (như trường hợp thương nhân đăng ký thời hạn tạm nhập – tái xuất, tạm xuất – tái nhập trên 5 hoặc 10 năm) sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý của cơ quan hải quan. Mặc khác, tại khoản 4 Điều 13 Nghị định 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương quy định “Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất được lưu tại Việt Nam không quá 60 ngày, kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập. Trường hợp cần kéo dài thời hạn, thương nhân có văn bản đề nghị gia hạn gửi Chi cục Hải quan nơi thực hiện thủ tục tạm nhập; thời hạn gia hạn mỗi lần không quá 30 ngày và không quá 2 lần gia hạn cho mỗi lô hàng tạm nhập, tái xuất”.

Tổng cục Hải quan đang tiếp nhận các ý kiến rà soát của hải quan địa phương cũng như của doanh nghiệp để có thể đánh giá toàn diện thực trạng triển khai Nghị định 08/2015/NĐ-CP và Nghị định 59/2018/NĐ-CP, cũng như kiến nghị cấp trên sửa đổi, bổ sung các quy định cần thiết. Dự kiến năm 2021, Tổng cục Hải quan sẽ báo cáo Bộ Tài chính, trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 08/2015/NĐ-CP và Nghị định 59/2018/NĐ-CP nêu trên để đảm bảo phù hợp với thực tế và theo đúng cam kết tại các Hiệp định./.

Huỳnh Trúc - VP
Tin khác