Một số vướng mắc trong quy định pháp luật về thẩm quyền điều tra của cơ quan Hải quan
TIN TỨC NGÀNH HẢI QUAN   16:39 | 16/06/2020
Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018. Theo đó, Hải quan là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện hành vi phạm tội quy định tại các Điều 188 Tội buôn lậu, Điều 189 Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới và Điều 190 Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm của Bộ luật Hình sự, thì cơ quan Hải quan có nhiệm vụ, quyền hạn tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.

Nhiệm vụ và quyền hạn điều tra của cơ quan Hải quan được quy định trong các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Thực hiện khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng. Các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể là:

(1) Thu thập chứng cứ, tài liệu đồ vật từ những người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;

(2) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can;

(3) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc khám nghiệm hiện trường; quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản; quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;

(4) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai bị hại, đương sự, người làm chứng;

(5) Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn;

(6) Kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều tra; quyết định phục hồi điều tra, Sau khi kết thúc điều tra, cơ quan Hải quan chuyển hồ sơ vụ án đến Viện Kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

Trường hợp 2: Thực hiện khởi tố vụ án đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiên trọng. Các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể là:

(1) Thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật từ những người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn về tội phạm;

(2) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án;

(3) Quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;

(4) Triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đương sự. Sau khi khởi tố vụ án và tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu, cơ quan Hải quan chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Qua hơn 2 năm triển khai thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, ngành Hải quan đã quán triệt, chủ động trong việc thực hiện thẩm quyền của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đối với những vi phạm có dấu hiệu tội phạm của tội danh mà cơ quan Hải quan có thẩm quyền điều tra đối vưới những vi phạm có dấu hiệu tội phạm của 3 tội danh mà cơ quan Hải quan có thẩm quyền điều tra. Tuy nhiên, qua thực tiễn công tác điều tra hình sự, có một số vướng mắc, hạn chế trong quy định của pháp luật về thẩm quyền điều tra của cơ quan Hải quan như sau:

Một là, hạn chế đối với các tội danh cơ quan Hải quan có thẩm quyền điều tra đối với 3 tội danh là Tội buôn lậu (Điều 188), Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189) và Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190) Bộ luật Hình sự 2015. Tuy nhiên, thực tế có rất nhiều tội danh có liên quan đến hoạt động hải quan, với dấu hiệu định khung của tội phạm là buôn bán, vận chuyển trái phép qua biên giới đối với hàng cấm, hàng giả, ma túy, vũ khí, lâm sản, động vật hoang dã... Nhiều vụ việc, hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm được cơ quan Hải quan trực tiếp phát hiện trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ tại cửa khẩu nhưng cơ quan Hải quan lại không có thẩm quyền khởi tố. Đặc biệt đối với Tội trốn thuế (Điều 200), pháp luật không quy định thẩm quyền điều tra cho cơ quan Hải quan mặc dù trong hoạt động nghiệp vụ của mình, cơ quan Hải quan nắm rõ chế độ, chính sách, quy trình, thủ tục đối với hàng háo xuất khẩu, nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Như vậy, có nhiều hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm được phát hiện trực tiếp qua hoạt động quản lý nhà nước về hải quan, trong phạm vi địa bàn hải quan nhưng cơ quan Hải quan không có thẩm quyền điều tra ma phải chuyển hồ sơ đến cơ quan Cảnh sách điều tra để thực hiện kiến nghị khởi tố. Điều này ảnh hưởng đến tính kịp thời, tính hiệu quả trong đấu tranh phòng chống tội phạm.

Hai là, hạn chế về thẩm quyền điều tra đối với tội phạm liên quan đến mua bán, vận chuyển hàng cấm. Đối với mặt hàng cấm, cơ quan Hải quan trước đây có thẩm quyền điều tra trong Tội buôn lậu, Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 153, 154 Bộ Luật Hình sự 1999), thì với pháp luật hiện hành, cơ quan Hải quan chỉ có thẩm quyền điều tra đối với Tội tang trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191). Trong khi đó, xét về mặt chủ quan của tội phạm, hành vi vận chuyển hàng cấm (nhận vận chuyển để lấy tiền công) có thể dễ nhận biết, chứng minh hơn hành vi buôn bán hàng cấm (mua đi bán lại để kiểm lời).

Ba là, hạn chế trong quy định về người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của cơ quan Hải quan đối với chức danh Đội trưởng Đội Kiểm soát Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát phòng, chống ma túy.

Tại các Cục Hải quan, Đội Kiểm soát Hải quan, Đội Kiểm soát phòng, chống ma túy là lực lượng chủ lực, chuyên trách trong hoạt động đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và kiểm soát phòng, chống ma túy. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành về cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của cơ quan Hải quan không có quy định đối với chức danh Đội trưởng Đội Kiểm soát Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát phòng, chống ma túy. Mặt khác, lực lượng kiểm soát hải quan, bao gồm cả lực lượng kiểm soát phòng, chống ma túy thường là lực lượng được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về công tác kiểm soát hải quan, điều tra hình sự nên khi phát sinh vụ việc, nếu không quy định cho các Đội này được thực hiện hoạt động kiểm tra, xác minh, khởi tố, điều tra vụ án theo quy định tố tụng hình sự sẽ là một bất cập lớn trong việc đào tạo, bố trí nhân sự thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và đấu tranh phòng, chống ma túy.

Bốn là, hạn chế về thời gian điều tra. Sau khi thực hiện khởi tố vụ án, pháp luật hiện hành quy định cho cơ quan Hải quan được tiến hành điều tra với một số hoạt động hạn chế cả về thẩm quyền và thời hạn. Trong trường hợp khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì thời hạn thực hiện các hoạt động điều tra là 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án để chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát có thẩm quyền đề nghị truy tố; trong trường hợp khởi tố vụ án, thì thời hạn thực hiện các hoạt động điều tra chỉ được 7 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án để chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trong khi đó, tại Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể tử khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

Như vậy, đối với 02 trường hợp nêu trên, đặc biệt với trường hợp cơ quan Hải quan thực hiện khởi tố vụ án, chuyển hồ sơ đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày thì thời hạn 7 ngày này đã bao gồm cả thời gian cơ quan Hải quan gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, đợi phía Viện kiểm sát phê chuẩn, kiểm sát hồ sơ và ban hành Quyết định chuyển hồ sơ đến cơ quan điều tra. Do vậy, quy định thời hạn điều tra chưa đảm bảo tính thực thi, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động điều tra của cơ quan Hải quan cũng như chất lượng hồ sơ vụ việc khi chuyển giao.

Năm là, bất cập trong quy định về giải quyết nguồn tin tội phạm: Theo quy định tại điểm d khoản1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự, nguồn tin về tội phạm gồm: Tố giác, tin báo về tội phạm kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân; lời khai của người phạm tội tự thú; thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện.

Tuy nhiên, cơ quan Hải quan chỉ có thẩm quyền điều tra trong trường hợp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc trực tiếp phát hiện hành vi phạm tội mà không có thẩm quyền điều tra đối với trường hợp kiến nghị khởi tố và trường hợp người phạm tội tự thú ngay cả với vi phạm có dấu hiệu tội phạm quy định tại các Điều 188, Điều 189 và Điều 190. Đây là bất cập trong quy định của pháp luật, làm hạn chế thẩm quyền điều tra với nguồn tin tội phạm thuộc thẩm quyền của cơ quan Hải quan, đặc biệt trong trường hợp Hải quan có thể tiếp nhận được kiến nghị khởi tố từ các cơ quan có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra khác (như Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm lâm) đối với tội phạm xảy ra trong địa bàn hoạt động hải quan.

Sáu là, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin. Hiện nay, hoạt động kiểm tra, theo quy định pháp luật hiện hành có quy định trình tự, thủ tục, thời hạn, biểu mẫu phân công thực hiện giải quyết đối với nguồn tin từ tin báo, tố giác tội phạm. Đối với nguồn tin từ việc trực tiếp phát hiện tội phạm (gồm bắt người phạm tội quả tang và phát hiện dấu hiệu tội phạm trong xử lý vi phạm hành chính) thì chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thời hạn, biểu mẫu phân công thực hiện giải quyết nguồn tin. Trong khi đó, qua thực tiễn công tác, vi phạm có dấu hiệu tội phạm cơ quan Hải quan chủ yếu trực tiếp phát hiện. Hiện pháp luật không có quy định cụ thể về biện pháp, thời hạn, biểu mẫu phân công cấp phó, cán bộ điều tra thực hiện giải quyết nguồn tin đối với bắt người phạm tội quả tang và từ vụ vi phạm hành chính.

Qua số liệu thống kê các vụ án hình sự ngành Hải quan khởi tố, điều tra trong thời gian qua thì 100% vụ án hình sự do cơ quan Hải quan khởi tố đều chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra để tiếp tục điều tra. Không có vụ án nào cơ quan Hải quan thực hiện việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, điều tra và chuyển Viện kiểm sát để thực hiện truy tố. Điều đó cho thấy, thực tiễn hiện nay, hoạt động chủ yếu trong thực hiện thẩm quyền điều tra của cơ quan Hải quan chủ yếu là kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm để quyết định khởi tố vụ án. Việc áp dụng biểu mẫu phân công cấp phó, cán bộ điều tra thực hiện khởi tố, điều tra vụ án (theo Thông tư 61/2017/TT-BCA) cho giai đoạn kiểm tra, xác minh nguồn tin và bất cập, do lúc này chưa có quyết định khởi tố vụ án, nên không thể hiện đúng bản chất quy định của pháp luật về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin.

Như vậy, những vướng mắc trong quy định của pháp luật về việc hạn chế thẩm quyền điều tra của cơ quan Hải quan, hạn chế về thời hạn điều tra, hạn chế trong quy định về kiểm tra, xác minh nguồn tin tội phạm làm ảnh hưởng đến tính thực thi của pháp luật tố tụng hình sự và ảnh hưởng đến hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của cơ quan Hải quan.

Để nâng cao hiệu quả công tác điều tra hình sự của cơ quan Hải quan, các vướng mắc, hạn chế này cần được xử lý theo hướng đề xuất sử đổi bổ sung quy định của pháp luật với những nội dung: bổ sung thẩm quyền điều tra đối với Tội tàng trữ, vận chyển hàng cấm (Điều 191), Tội trốn thuế (Điều 200) và các tội có dấu hiệu định khung “qua biên giới” của hàng hóa xuất nhập khẩu; Bổ sung thẩm quyền điều tra cho cơ quan Hải quan đối với nguồn tin kiến nghị khởi tố và người phạm tội tự thú; Bổ sung quy định về kiểm tra, xác minh giải quyết nguồn tin (đối với nguồn tin từ việc trực tiếp phát hiện tội phạm trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Hải quan) và biểu mẫu phân công cấp phó, cán bộ điều tra giải quyết nguồn tin trong những trường hợp này; Sửa đổi quy định về thời hạn điều tra sau khi khởi tố vụ án cho cơ quan Hải quan theo hướng tăng thời hạn để đảm bảo tính thực thi của quy định pháp luật trong thực hiện các hoạt động điều tra./.

                                                 Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Hải quan

Nguyễn Triết
Tin khác