Luật Hải quan năm 2014 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/1/2015
Tin tức   14:38 | 29/09/2014
Luật Hải quan số 54/2014/QH13 (sau đây gọi là Luật Hải quan 2014) đã được Quốc hội thông qua vào 23/6/2014 tại kỳ họp thứ VII và sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/1/2015. Luật Hải quan năm 2014 được bố cục thành 8 Chương gồm 104 Điều, với nhiều điểm mới, đặc biệt là các nội dung liên quan đến cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK.

Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng mà thực tế phát triển kinh tế đối ngoại trước mắt cũng như lâu dài đặt ra; tạo hành lang pháp lý cho hiện đại hóa hoạt động hải quan, áp dụng rộng rãi hải quan điện tử, đáp ứng tốt hơn yêu cầu cải cách hành chính, cải cách thủ tục hải quan hướng tới hoạt động hải quan công khai, minh bạch, hiệu quả hơn, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả,hiệu lực công tác bảo vệ lợi ích, chủ quyền quốc gia, chống buôn lậu và gian lận thương mại. Một số quy định mới tại Luật Hải quan 2014 liên quan đến mục tiêu “Cải cách thủ tục Hải quan theo hướng đơn giản, rõ ràng, công khai, thuận tiện, thống nhất, tạo thuận lợi thương mại, thực hiện hải quan điện tử, một cửa quốc gia”,  được quy định cụ thể như sau:

1. “Cơ chế một cửa quốc gia” (quy định tại khoản 3 Điều 3): là việc thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, theo đó “cho phép người khai hải quan gửi thông tin,chứng từ điện tử để thực hiện thủ tục hải quan và thủ tục của cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thông qua một hệ thống thông tin tích hợp. Cơ quan quản lý nhà nước quyết định cho phép hàng hóa được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; cơ quan hải quan quyết định thông quan, giải phóng hàng hóa trên hệ thống thông tin tích hợp”.

Ngành Hải quan đã triển khai, áp dụng Hệ thống thông quan tự động (Hệ thống VNACCS/VCIS) kể từ ngày 01/4/2013 trong thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Theo đó việc khai báo của người khai hải quan được thực hiện qua mạng và Hệ thống sẽ tiếp nhận, phản hồi kết quả xử lý trong vài giây.Đây là một trong những bước đột phá trong thực hiện hiện đại hóa, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, là tiền đề để thực hiện cơ chế một của quốc gia trong thời gian tới.

2.“Xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan là việc cơ quan hải quan xác định mã số, xuất xứ, trị giá hải quan của hàng hóa trước khi làm thủ tục hải quan”(khoản 26 Điều 3, Điều 28).

Trước đây, nội dung này được quy định tại các văn bản hướng dẫn (nghị định, thông tư) nay đã được luật hóa. Theo đó, doanh nghiệp cung cấp cho cơ quan những hồ sơ, tài liệu, … có liên quan và đề nghị cơ quan hải quan xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan của lô hàng dự kiến, xuất khẩu, nhập khẩu. Trên cơ sở đó,doanh nghiệp sẽ tính toán được số tiền thuế phải nộp, dự kiến trước hiệu quả kinh doanh để chủ động quyết định việc xuất khẩu hoặc nhập khẩu của mình.

3. “Thời hạn cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan”(tại điều 23):

- Về thời gian cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra thực tế hàng hóa có sự thay đổi,rút ngắn hơn so với qui định trước đây (điểm b, khoản 2 Điều 23): “Hoàn thành việc kiểm tra thực tế hàng hoá chậm nhất là 08 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hoá cho cơ quan hải quan”,trong khi quy định trước đây là 02 ngày làm việc, điều này sẽ làm giảm bớt thời gian thông quan, giảm chi phí cho doanh nghiệp.

- Khoản4 Điều 23 quy định thêm trường hợp “Cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa vào ngày lễ, ngày nghỉ và ngoài giờ làm việc để bảo đảm kịp thời việc xếp dỡ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, việc xuất cảnh, nhập cảnh của hành khách, phương tiện vận tải hoặc trên cơ sở đề nghị của người khai hải quan và phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn hoạt động hải quan”. Nội dung này trước đây được hướng dẫn thựchiện bằng các văn bản hướng dẫn, nay đã được đưa vào Luật nhằm tạo thuận lợicho doanh nghiệp trong việc giao nhận hàng hóa đúng thời gian theo thỏa thuậntrong hợp đồng, tránh ách tắt hàng hóa tại cửa khẩu.

4. Hồ sơ hải quan(khoản 1 điều 24): Nhằm đơn giản hóa, rút gọn hồ sơ Hải quan và tạo điều kiện cho Doanh nghiệp, tại Luật Hải quan 2014 quy định chung thống nhất về hồ sơ hải quan. Theo đó, chỉ có hải quan là chứng từ bắt buộc phải có khi làm thủ tục hải quan. Đối với các chứng từ khác thuộc hồ sơ hải quan giao Bộ Tài chính quy định cụ thể trường hợp phải nộp hoặc xuất trình phù hợp với quy định của pháp luật liên quan. Điều này có sự khác biệt so với quy định trước đây. Cụ thể tại Luật Hải quan sửa đổi 2005, hồ sơ Hải quan gồm: tờ khai hải quan; hóa đơn thương mại; hợp đồng mua bán hàng hóa; giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh mà theo quy định của pháp luật phải có giấy phép; Các chứng từ khác theo quy định của pháp luật đối với từng mặt hàng mà người khai hải quan phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan hải quan.

 5.Thời hạn nộp hồ sơ xuất khẩu (khoản 1 Điều 25): thời hạn nộp hồ sơ hải quan đối với hàng xuất khẩu là: nộp sau khi đã tập kết hàng hóa tại địa điểm người khai hải quan thông báo và chậm nhất là 04 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh (quy định trước đây là 08 giờ). Về thực tế, quy định này tạo điều kiện cho doanh nghiệp có nhiều thời gian để tập kết, đóng container hàng hóa xuất khẩu.

6. Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp: Nhằm tạo thuận lợi và khuyến khích Doanh nghiệp có kim ngạch XNK cao, chấp hành tốt pháp luật, thuế, Luật Hải quan 2014 bổ sungMục 2 chương III gồm các Điều từ 42 đến Điều 45 quy định về chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp: Điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên; Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp; Trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc thực hiện chế độ ưu tiên; Trách nhiệm của doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên.

Trong đó, tại Điều 43 quy định về “Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp”:

- Miễn kiểm tra chứng từ liên quan thuộc hồ sơ hải quan, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc kiểm tra ngẫu nhiên để đánh giá sự tuân thủ pháp luật.

- Được làm thủ tục hải quan bằng tờ khai hải quan chưa hoàn chỉnh hoặc chứng từ thay thế tờ khai hải quan. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan chưa hoàn chỉnh hoặc kể từ ngày nộp chứng từ thaythế tờ khai hải quan, người khai hải quan phải nộp tờ khai hải quan hoàn chỉnh và các chứng từ liên quan thuộc hồ sơ hải quan.

- Được ưu tiên khi thực hiện thủ tục về thuế đối với hàng hóa theo quy định của pháp luật về thuế.

Sự thay đổi trong quản lý về thủ tục sẽ có tác động đến hầu hết các hoạt động nghiệp vụ hải quan thuộc chức năng nhiệm vụ của hải quan (kiểm tra, giám sát, điều tra chống buôn lậu, quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu…) theo đó,đòi hỏi quy định trong Luật phải có sự điều chỉnh cho phù hợp, nâng cao năng lực của hoạt động kiểm tra, kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại để đảm bảo mục tiêu đặt ra: đơn giản hóa thủ tục nhưng quản lý hải quan được chặt chẽ. /.

Lưu Tuấn Bình - phòng Nghiệp vụ
Tin khác