Một số nội dung mới của Luật Hải quan năm 2014
Tin tức   13:25 | 26/11/2014
Luật Hải quan số 54/2014/QH13 được Quốc hội Khóa XIII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014, được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 12/2014/L-CTN ngày 30/6/2014 là một bước phát triển mới về cơ sở pháp lý để ngành Hải quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, góp phần bảo vệ lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia



          Luật Hải quan được bố cục thành 8 Chươnggồm 104 Điều. Những nội dung mới của Luật có thể chia thành 3 nhóm như sau:

          Nhóm vấn đề thứ nhất, về cải cách thủ tục hải quan, hiện đại hóa quản lý hải quan, nội luật hóa các cam kết quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

          Một là, thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phươngthức điện tử:

          Để phù hợp với việc thực hiện thủ tục hải quan bằng phương thức điện tử, điểm a khoản 3 Điều 25 Luật hải quan quy định đối với trường hợp khai hải quan điện tử, người khai hải quan nộp các chứng từ giấy thuộc hồ sơ hải quan khi cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra hồsơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, theo đó đối với hàng hóa thuộc diện miễn kiểm tra hồ sơ thì chưa phải nộp hồ sơ hải quan khi làm thủ tục hải quan.Luật cũng quy định cụ thể về địa điểm đăng ký tờ khai (khoản 2 Điều 22), phươngthức đăng ký tờ khai, thời điểm đăng ký tờ khai (Điều 30) phù hợp với từngphương thức thực hiện thủ tục hải quan.

          Hai là, tiếp tục đơn giản hóa thủ tụchành chính về hải quan (Điều 23, Điều 24, Điều 60)

          Tại khoản 1 Điều 24 của Luật quy địnhchung thống nhất về hồ sơ hải quan theo đó: chỉ có tờ khai hải quan là chứng từbắt buộc phải có khi làm thủ tục hải quan, đối với các chứng từ khác thuộc hồsơ hải quan giao Bộ Tài chính quy định cụ thể trường hợp phải nộp hoặc xuấttrình phù hợp với quy định của pháp luật liên quan.

          Về thời hạn cơ quan làm thủ tục hảiquan: tại Điều 23 của Luật đã quy định rõ công chức hải quan kiểm tra hồ sơ chậm nhất 2 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận đầy đủ hồsơ hải quan; thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa là 8 giờ làm việc kể từ thờiđiểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hóa cho cơ quan hải quan (Luật hiện hành là 02 ngày làm việc); trường hợp cần thiết phải gia hạn thì thời gian gia hạn tối đa không quá 02 ngày. Khoản 4 Điều 23 Luật cũng quy định rõ cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa vào ngày lễ, ngày nghỉ và ngoài giờ làm việc để bảo đảm kịp thời việc xếp dỡ hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu, việc xuất cảnh, nhập cảnh của hành khách, phương tiện vận tải hoặc trêncơ sở đề nghị của người khai hải quan và phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn hoạt động hải quan.

          Về thủ tục hải quan đối với hàng hóanhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu, khoản 1 Điều 59 Luật hảiquan quy định rõ đây là đối tượng chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan từ khinhập khẩu, trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cho đến khi sản phẩm được xuấtkhẩu hoặc thay đổi mục đích sử dụng. Theo đó, việc quản lý, theo dõi hàng hóa không thực hiện trên cơ sở thanh khoản từng tờ khai như hiện nay mà thực hiện trên cơ sở lượng hàng hóa nhập-xuất-tồn. Cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra cơ sở gia công, sản xuất; năng lực gia công, sản xuất; việc sử dụng nguyênliệu, vật tư nhập khẩu; việc quyết toán, quản lý, sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng hóa xuất khẩu (Điều 59); doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện chế độ quản lý, kế toán, thống kê, lưu giữ chứng từ, sổ sách, số liệu hàng hóa đưa vào, đưa ra cơ sở gia công, sản xuất; thực hiện báocáo quyết toán việc quản lý, sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu, hàng hóa xuất khẩu; xuất trình sổ sách, chứng từ, hàng hóa khi cơ quan hải quan kiểm tra(Điều 60).

          Ba là, Áp dụng đầy đủ nguyên tắc quảnlý rủi ro trong kiểm tra, giám sát hải quan (Điều 17)

          Điều 17 Luật hải quan quy định các nộidung mang tính nguyên tắc về quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan,theo đó cơ quan hải quan sẽ áp dụng quản lý rủi ro để quyết định việc kiểm tra,giám sát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải; hỗ trợ công tác phòng,chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

          Bốn là, Quy định về chế độ ưu tiên,tạo thuận lợi về thủ tục hải quan cho doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện (cácĐiều 42,43,44,45)

          Luật Hải quan quy định cụ thể điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên (Điều 42), việc áp dụng chế độ ưu tiên đối với các doanh nghiệp thuộc các quốc gia có ký thỏa thuận với Việt Nam công nhận lẫn nhau về doanh nghiệp ưu tiên; quyền, trách nhiệm của cơ quan hải quan (Điều 44), của doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên; Chế độ ưu tiên quy định tại Điều 43 gồm:

          - Miễn kiểm tra chứng từ liên quanthuộc hồ sơ hải quan, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa trong quá trình thực hiệnthủ tục hải quan, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc kiểm trangẫu nhiên để đánh giá sự tuân thủ pháp luật.

          - Được làm thủ tục hải quan bằng tờkhai hải quan chưa hoàn chỉnh hoặc chứng từ thay thế tờ khai hải quan.

          - Được ưu tiên khi thực hiện thủ tụcvề thuế đối với hàng hóa theo quy định của pháp luật về thuế.

          Năm là, Thực hiện cơ chế xác địnhtrước cho doanh nghiệp về mã số, xuất xứ, trị giá hải quan (Điều 18, Điều 28)

          Điều 28 Luật Hải quan quy định cụ thểvề xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hóa. Theo đó,trường hợp người khai hải quan đề nghị cơ quan hải quan xác định trước mã số,xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hóa dự kiến xuất khẩu, nhập khẩu, ngườikhai hải quan cung cấp thông tin, chứng từ liên quan, mẫu hàng hóa dự kiến xuấtkhẩu, nhập khẩu hoặc tài liệu kỹ thuật liên quan cho cơ quan hải quan để cơquan hải quan xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan.

          Sáu là, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo cơ chế một cửa quốc gia (Điều 4, Điều 24)

          Tại Điều 24 của luật bổ sung khái niệm“cơ chế một cửa quốc giá”, theo đó “Cơ chế một cửa quốc gia là việc cho phépngười khai hải quan gửi thông tin, chứng từ điện tử để thực hiện thủ tục hảiquan và thủ tục của cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến hàng hóa xuất khẩu,nhập khẩu thông qua một hệ thống thông tin tích hợp. Cơ quan quản lý nhà nướcquyết định cho phép hàng hóa được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; cơ quan hảiquan quyết định thông quan, giải phóng hàng hóa trên hệ thống thông tin tíchhợp.”

          Nhóm vấn đề thứ hai, về nâng cao hiệulực, hiệu quả của hoạt động quản lý hải quan; tăng cường công tác bảo vệ anninh quốc gia và an ninh kinh tế nhằm phòng chống buôn lậu, vận chuyển tráiphép hàng hóa qua  biên giới, gian lậnthương mại

          Sự thay đổi trong quản lý về thủ tục sẽ có tác động đến hầu hết các hoạt động nghiệp vụ hải quan thuộc chức năng nhiệm vụ của hải quan (kiểm tra, giám sát, điều tra chống buôn lậu, quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu…), theo đó Luật Hải quan đã có những quy định điều chỉnh về nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, để bảođảm mục tiêu vừa đơn giản hóa thủ tục nhưng vừa quản lý hải quan được chặt chẽ.

          Nhóm vấn đề thứ ba, về sửa đổi, bổ sung những quy định trong Luật hiện hành để bảo đảm tính thống nhất, khả thi của pháp luật hải quan, phù hợp với văn bản pháp luật có liên quan và thực tế hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu.

          Sau khi Luật Hải quan hiện hành được ban hành và có hiệu lực, nhiều Luật khác liên quan đến hoạt động xuất khẩu,nhập khẩu đã được sửa đổi, ban hành mới như Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật An toàn thực phẩm, Luật Thương mại… nên một số nội dung quy định tại các Luật này chưa được quy định tại Luật Hải quan hiện hành.

          Luật Hải quan (2014) giải quyết các vấn đề nêu trên, tập trung ở những nội dung sau:

          Một là, Khai bổ sung nội dung đã khai trên tờ khai hải quan sau khi hàng hóa đã thông quan (Điều 29)

          Khoản 4 Điều 29 Luật Hải quan quy định cụ thể các trường hợp người khai hải quan được khai bổ sung để bao quát tất cả các trường hợp phát sinh trong thực tế, Cụ thể:

          - Đối với hàng hóa đang làm thủ tục hải quan; trước thời điểm cơ quan hải quan thông báo việc kiểm tra trực tiếp hồ sơ hải quan;

          - Đối với hàng hóa đã được thông quan: trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thông quan và trước thời điểm cơ quan hải quan quyết định kiểm tra sau thông quan, thanh tra, trừ trường hợp nội dung khai bổ sung liên quan đến giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu; kiểm tra chuyênngành về chất lượng hàng hóa, y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm;

          - Quá thời hạn nêu trên, người khai hải quan được thực hiện khai bổ sung nhưng bị xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

          Hai là, Kiểm tra chuyên ngành đối vớihàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 35)

          Điều 35 Luật Hải quan quy định rõ:

          - Trường hợp phải kiểm tra chuyên ngành về chất lượng, y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm thì cơ quan hải quan căn cứ kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành để quyết định việc thông quan.

          - Hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành phải được lưu giữ tại cửa khẩu cho đến khi được thông quan. Trường hợp đưa về địa điểm khác để tiến hành việc kiểm tra chuyên ngành hoặc chủ hàng có yêu cầu đưa hàng hóa về bảo quản, thì địa điểm lưu giữ phải đáp ứng điều kiện về giám sát hải quan và hàng hóa đó chịu sự giám sát của cơ quan hải quan cho đến khi được thông quan.

          - Chủ hàng hóa chịu trách nhiệm bảo quản, lưu giữ hàng hóa tại địa điểm kiểm tra chuyên ngành hoặc địa điểm lưu giữ của chủ hàng hóa cho đến khi cơ quan hải quan quyết định thông quan.

          - Cơ quan kiểm tra chuyên ngành có trách nhiệm thông báo kết quả cho cơ quan hải quan trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả kiểm tra.

          Ba là, Phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 26)

          Điều 26 Luật Hải quan quy định cụ thể về phân loại hàng hóa và phạm vi áp dụng phân loại hàng hóa, theo đó:

          - Phân loại hàng hóa để xác định mã số hàng hóa làm cơ sở tính thuế và thực hiện chính sách quản lý hàng hóa.

          - Khi phân loại hàng hóa phải căn cứ hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và các thông tin khác có liên quan đến hànghóa xuất khẩu, nhập khẩu để xác định tên gọi, mã số của hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.

          Để bảo đảm tính thống nhất giữa Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam với các danh mục quản lý, điều hành hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, khoản 3 Điều 26 Luật hải quan đã quy định rõ:

          “Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu Việt Nam được xây dựng trên cơ sở áp dụng đầy đủ Công ước quốc tế về hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa.

          Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam thống nhất trong toàn quốc.”

          Bốn là, Xử lý hàng hóa tồn đọng (Điều58)

          Điều 58 Luật Hải quan quy định về việc xử lý hàng hóa tồn đọng được xây dựng trên cơ sở kế thừa các nội dung quy định tại Điều 45 Luật Hải quan hiện hành và Thông tư số 15/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý hàng hóa tồn đọng trong khu vực giám sát hải quan. Theo khoản 1 Điều 58, hàng hóa tồn đọng được lưu giữ tại khu vực cảng, kho, bãi thuộc địa bàn hoạt động hải quan bao gồm:

          - Hàng hóa mà chủ hàng hóa tuyên bố từbỏ hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ;

          - Hàng hóa nhập khẩu quá 90 ngày, kểtừ ngày đến cửa khẩu nhưng không có người đến nhận;

          - Hàng hóa do doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi thu gom trong quá trình xếp dỡ hàng hóa;

          - Hàng hóa nhập khẩu ngoài vận đơn, bản khai hàng hóa nhưng không có người đến nhận.

          Năm là, Quy định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan trong lĩnh vực hải quan (Điều 18, Điều 19, Điều 22, Điều 40, Điều 41, Điều 63, Điều 92)

          Luật Hải quan hiện hành chưa có quyđịnh trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan, khu vực xếp hàng hóa, khu vực kiểm tra thực tế hàng hóa khi quyhoạch, xây dựng cảng, cửa khẩu… Vì thế nhiều cảng, cửa khẩu, khu phi thuế quan khi được thành lập không có mặt bằng để bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan,hàng hóa được xếp đặt không khoa học, không phân biệt khu vực chứa hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu với khu vực chứa hàng hóa nội địa nên khó khăn cho công tác quản lý hải quan.

          Để khắc phục bất cập nêu trên, Luật Hải quan đã bổ sung, quy định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên liênquan trong các hoạt động đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Cụ thể:

          - Tại các Điều 18, 40, 82: Quyền,nghĩa vụ của người khai hải quan, chủ hàng trong việc làm thủ tục hải quan,thực hiện chế độ kiểm tra, giám sát hải quan.

          - Tại các Điều 19, 39, 81: Nhiệm vụ,quyền hạn của cơ quan hải quan, công chức hải quan

          - Tại Điều 22: Trách nhiệm của tổchức, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền khi quy hoạch, thiết kế xây dựng cảng, cửakhẩu, khu phí thuế quan…

          - Tại Điều 24: Trách nhiệm của các Bộ quản lý chuyên ngành khi thực hiện cơ chế một cửa quốc gia.

          - Tại Điều 91: Quyền và nghĩa vụ củacác tổ chức và cá nhân liên quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển tráiphép hàng hóa qua biên giới.

          Luật Hải quan (sửa đổi) năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015.

Trần Bửu Tài
Tin khác